膼脫NG

Ngoại hạng Anh

Tottenham – Stoke City 
Chủ nhật:26/2 20:30

Chung kết Liên đoàn Anh
Manchester Utd – Southampton 
Chủ nhật:26/2 23:30  

Tây Ban Nha
Atletico Madrid – Barcelona 
Chủ nhật:26/2 22:15 
Villarreal – Real Madrid 
Thứ 2:27/2 2:45 

Video ngôi sao

Truyền thuyết Barca - Real: Trăm năm thù hận
http://www.footie.co.za/wp-content/uploads/2011/12/El-Clasico-Preview.jpg
Cuộc đối đầu thế kỷ - Kỳ I : Hãy giết bọn Catalan
Tên độc tài Francisco Franco
Tiếng gầm khủng khiếp từ cả khối người và tiếng rít ghê rợn của những tên lửa tự chế đã tạo nên khung cảnh hãi hùng đến nỗi thủ môn Barcelona phải giữ khoảng cách tối đa với khung thành mình - cũng có nghĩa là lánh xa đám đông Real cuồng nhiệt trên khán đài SVĐ Charmatin. Dù sao đi nữa, anh ta chỉ bị đe doạ, nghĩa là vẫn may mắn hơn các đồng đội trên sân.

Những chiếc "máy chém" Moleiro, Querejât, Souto của Real luôn sẵn sàng phạng thẳng vào ống quyển bất cứ cầu thủ Barca nào đang điều khiển bóng. Trọng tài thì gần như không hiện diện, hoặc nếu có cũng chỉ để phạt những cầu thủ Barca khi có dịp. Nhìn đồng đội Escola quằn quại trên cáng, một cầu thủ Barca đã bật khóc.

Trên đường piste, một người khoác quân phục, thay vì giữ nhiệm vụ bảo vệ an ninh lại luôn hò hét: "Hãy giết bọn Catalan. Giết đàn chó Catalan ấy đi". Chịu hết xiết, Angel Mur- nhân viên xoa bóp của Barcelona - đứng lên phản ứng: "Xin lỗi, có thể tôi không sinh ra ở Catalanoia, nhưng tôi thấy mình thuộc về xứ sở ấy. Không được xúc phạm xứ Catalonia của tôi". Thế là Mur chuốc lấy hậu quả. Viên sĩ quan gằn giọng: "Đồ chó đẻ theo chủ nghĩa ly khai. Mày đã bị bắt vì tội cổ súy phong trào ly khai".

Đấy là trận lượt về bán kết cúp TBN vào mùa xuân 1943. Dưới thời Franco, cúp TBN được đặt tên theo vị trí trong quân đội của nhà độc tài: Cúp Tổng tư lệnh. Lượt đi, Barcelona thắng Real 3-0 trên sân nhà và đấy thật sự là "trọng tội" đối với những cầu thủ Barcelona vốn đã mang nặng trên vai quá nhiều "tội lỗi" kể từ khi nội chiến diễn ra ở TBN.

Trước khi bước vào trận lượt về, Barcelona còn bị viên Giám đốc cơ quan an ninh quốc gia Jose Fiant y Escriva de Romani cảnh cáo: "Hãy nhớ rằng các anh là những kẻ phản quốc. Nhờ sự khoan hồng của chế độ, các anh mới được tự do chơi bóng". Thế thì làm gì những Raich, Escola của Barca chẳng rúm ró? Hồ sơ "từng trốn ra nước ngoài" của họ tuy đã được xếp vào ngăn kéo, nhưng chính quyền có thể mở ra xem lại bất cứ lúc nào. Cuối cùng, Real thắng đậm 11-1 trong trận lượt về, trận đấu mà cựu cầu thủ Real Eduardo Teus (sau này là HLV trưởng đội TBN) viết trên tờ Ya: "Chiến thắng vang dội nhất kể từ ngày thành lập của Real".

Trong lịch sử châu Âu, Francisco Franco là viên tướng trẻ nhất từ sau Napoleon Bonaparte. Franco tự nguyện xông ra trận tiền ở Ma Rốc và nổi lên như một sĩ quan rất can đảm ở tuổi 18. Thận trọng, lạnh lùng, đạm bạc, Franco dần dần thu phục thuộc cấp sau khi nhanh chóng chiếm được lòng tin của cấp trên và thăng tiến rất nhanh trong binh nghiệp. Ông ta được thăng cấp tướng ở tuổi 33 và trở thành ngôi sao sáng giá nhất trọng cuộc nội chiến 1936-1939. Franco là nhân vật bảo thủ, không liên kết với bất kỳ đảng phái chính trị nào.

Nhưng kể từ khi đã thâu tóm được quyền lực, Franco nhanh chóng kết hợp các nhóm cánh hữu chống nền cộng hoà thành phong trào Dân tộc và trở thành thủ lĩnh của phong trào này. Kẻ thù số 1 của phong trào Dân tộc do Franco đứng đầu, mặc nhiên là phe Cộng hoà ngự trị xứ Catalonia trong cuộc nội chiến. Trước, trong và sau chiến tranh, các nhà chính trị ở Catalonia bao giờ cũng xem Barcelona là lá cờ đầu, là niềm tự hào vô bờ bến, là biểu tượng sức mạn của mình.

Khi Catalonia thất thủ trước sức tấn công của quân đội Franco đầu năm 1939, người ta không chỉ thấy rõ tương lai đen tối của CLB Barcelona mà còn dễ dàng dự đoán về một giai đoạn hoàng kim của Real Madrid. So với hai đồng minh Hitler ở Đức và Mussolini ở Ý, chắn chắn Franco hơn đứt về lĩnh vực thể thao. Ông ta rất mê bóng đá, thường cá độ (lấy tên là Francisco Cofran) và từng 2 lần hốt bạc nhờ đoán trúng tỷ số bóng đá. Real là đội bóng mà Franco thích nhất, đồng thời là công cụ ngoại giao hữu hiệu nhất đối với chính quyền độc tài Franco. Thế thì, Barcelona còn cửa nào để vươn lên trong làng bóng TBN.

Những bàn thắng được "phát không" cho Real và Athletic Bilbao vào năm 1955 đã tước đi chức vô địch xứng đáng của Barcelona. Hàng loạt cầu thủ Real đánh "bề hội đồng" Kubala - một cầu thủ huyền thoại của Barca - trong trận đấu ngày 21/2/1954 mà không ai bị đuổi khỏi sân. Real được hưởng quả phạt đền khi một cầu thủ cố ý ngã nhào ngoài khu 15m50 của Barcelona đến 3m trong một trận đấu năm 1970.

Barcelona cũng như Real Madrid đều là những CLB lừng lẫy, làm rạng danh bóng đá TBN trên đấu trường quốc tế. Real giữ kỷ lục 8 lần đoạt cúp C1 trong khi Barcelona lại là CLB TBN duy nhất đoạt cả 3 cúp châu Âu. Nhưng dưới thời Franco,Barcelona luôn chịu số phận hẩm hiu của cô bé lọ lem khi cạnh tranh với Real. Bảng vàng bóng đá TBN (và cả châu Âu) có lẽ đã khác đi rất nhiều nếu chính quyền Franco không giúp Real phỗng từ tay Barcelona ngôi sao có một không hai trong lịch sử cúp C1 châu Âu: đó là Alfredo Di Stefano

Cuộc đối đầu thế kỷ - Kỳ II : Real đã cướp Di Stefano như thế nào ?
Trước khi Pele khẳng định ngôi vua trong lịch sử bóng đá thé giới vào năm 1970, không ai xuất sắc hơn Alfredo Di Stefano. Cầu thủ hai lần đoạt "Quả bóng vàng châu ÂU" này từng khoác áo ĐTQG Argentina và TBN, nhưng gần như toàn bộ ánh hào quang của ông chỉ phát ra từ chiếc áo Real Madrid.

Ngay trong mùa bóng đầu tiên xuất hiện (1953-1954), Di Stefano đã đem về cho đội bóng con cưng của Franco danh hiệu VĐQG đầu tiên sau 21 năm chờ đợi. Một năm sau, Real bảo vệ thành công vị trí số 1 trong làng bóng TBN. Tiếp đó là một chuỗi thành tích bất hủ, có lẽ không bao giờ lặp lại: cúp C1 châu Âu vừa ra đời đã thuộc về Real trong 5 mùa bóng liên tiếp và Di Stefano ghi bàn trong cả 5 trận chung kết. Kỹ thuật, tốc độ, thể lực, óc quan sát sáng tạo của Di Stefano đều đạt đến mức độ hoàn hảo. Hai mươi năm trước khi đội tuyển Hà Lan làm cả thế giới say đắm bởi lối đá tổng lực, một mình Di Stefano đã trình diễn lối đá ấy khi ông thoắt ẩn, thoắt hiện ở mọi khu vực trên sân. "Có Stefano coi như đội bóng có hai cầu thủ ở bất cứ vị trí nào trong đội hình", một HLV từng nói như thế về Stefano.
Cùng thời với Di Stefano, TBN còn có một ngôi sao khác mà sau này nhiều nhân vật bóng đá kỳ cựu cho rằng có thể sánh ngang với Di Stefano về mọi mặt, nếu không tính đến thành tích. Đó là Ladislav Kubala, cầu thủ từng chơi cho 3 đội tuyển Tiệp Khắc, Hungary và TBN, 5 lần VĐQG 2 lần đoạt cuó C3 châu Âu, sau này còn giữ cả ghế HLV trưởng đội TBN.

Điều gì sẽ xảy ra nếu Barca có là Kubala lần Di Stefano trong đội hình? Chắc chắn Barcelona sẽ đè bẹp Real. Còn nghi ngờ gì nữa? Họ đã đá cặp với nhau trong trận đấu biểu diễn ngày 26/1/1955 và đè bẹp Bologna, một đối thủ mạnh đến từ Ý bằng tỷ số 6-1. Kubala và Di Stefano phối hợp, hoán chuyển vị trí, tạo điều kiện cho nhau ghi bàn như thể họ đã là đồng đội ăn ý từ nhiều năm. Barcelona không được phép mạnh mẽ như thế!


Khi sang Colombia khoác áo CLB Milonarios, Di Stefano vẫn được nhìn nhận là tài sản thuộc sở hữu của CLB River Plate. Bởi thế, Barcelona đã ký với River Plate hợp đồng chuyển nhượng cầu thủ thiên tài này. Biết mình chậm chận, Real lập tức quay sang ký hợp đồng với Milonarios. Duối về lý nhưng mạnh về quyền ít nhất Real cũng có thể thủ hoà với Barcelona trong cuộc tranh giành.


Chỉ cần Real hoàn tất hợp đồng với Millonarios là LĐBĐ TBN nhanh chóng nhập cuộc. kế hoạch của RFEF giúp Real "thủ hoà" chỉ cần nghe qua là thấy trái khoáy. Nhưng có hề gì, tổ chức tay sai này phán gọn, Real và Barcelona luân phiên sở hữu Di Stefano, mỗi đội một mùa, Real được ưu tiên dùng trước (mùa bóng 53-54). trong lịch sử bóng đá thế giới, chưa bao giờ có một cú chuyển nhượng kỳ quặc như thế.


Để xua tan khả năng Barca không đồng ý với phán quyến này, RFEF cấp tốc soạn ngay một bản dự thảo thật "ác": cấm các cầu thủ nước ngoài thi đấu ở TBN. Nếu đến lượt Di Stefano thuộc về Barcelona, RFEF sẽ áp dụng ngay luật này. Thế là đội bóng xứ Catalonia đánh chịu thiệt, nhường quách Di Stefano.


Có "mũi tên vàng" trong đội hình, Real không chỉ bá chủ làng bóng TBN mà còn hùng cứ châu Âu suốt một thời gian dài, để rồi sau này được FIFA tôn vinh là "CLB xuất sắc nhất thế giới trong thế kỷ 20". Mãi đến năm 1963. RFEF mới áp dụng luật cấm cầu thủ nước ngoài tại TBN.

Không phải Barcelona không lường trước những khó khăn trong việc đưa Di Stefano về Catalonia. Họ thuê hẳn Trias Fargas - một luật sư thuộc phong trào Dân tộc - để dùng lúc đưa nhau ra toà. Trias sống ở Catalonia và hiểu rất rõ mọi diễn tiến trong bàng bóng Colombia, vì cha ông (vượt biên sang Colombia khi nội chiến kết thúc) là một thành viên trong ban lãnh đạo Millonarios. Trong quá trình liên lạc để có bản hợp đồng chuyển nhượng Stefano, Trias thường xuyên liên lạc với cha bằng điện tín và họ phải dùng mật mã để không rò rỉ thông tin.

Bức điện đầu tiên mà Trias gửi sang Colombia có nội dung như sau: "Barcelona đã đạt được thoả thuận với Di Stefano và River Plate. Real muốn nhảy vào vòng cạnh tranh, dù họ đến sau. ở TBN, bóng đá không còn là trò chơi mà đã trở thành một vấn đề sống còn, là chính tị, là niềm tự hào sắc tộc. Vấn đề Di Stefano đã trở thành vấn đề của cả một đất nước. Đấy là lý do vì sao bức điện này và cả những bức sau này sẽ phải viết bằng mật mã". Công phu như thế mà thành muối bỏ biển, thì làm sao Barcelona không hận Real đời đời kiếp kiếp?

Ngay từ thuở thành lập, quan điểm "chống Madrid" đã ngự trị mạnh mẽ ở Barcelona, cũng như nó tồn tại trong đời sống thường nhật ở Catalonia. Barcelona ra đời năm 1899, đúng 1 năm sau khi TBN mất nốt những thuộc địa cuối cùng là Cuba, Puerto Rico và Philippines. Chính quyền trung ương tại Madrid suy yếu trầm trọng. Đức là nước châu Âu duy nhất ủng hộ TBN về mặt ngoại giao trong cuộc chiến với Mỹ.

Những phong trào đòi tự trị nổi lên khắp nơi, Catalonia, Basque, Galicia đều muốn ly khai khỏi "thây ma Castille" để tự phát triển tiềm năng công nghiệp của riêng mình. ở những nơi ấy, dù nghiêng về cánh tả hay cánh hữu, người dân đều dùng mọi cách để phân biệt chính họ với cái gọi là đất nước TBN. "Tôi tự hào khi sinh ra ở Catalonia" - một người Catalna sẵn sàng phát biểu như thế.

Tóm lại, Barcelona đối đầu với Madrid trên mọi lĩnh vực. Nhưng trong lịch sử, đỉnh điểm của sự đối đầu ấy vẫn là giai đoạn sau khi nội chiến kết thúc. Không chỉ đối đầu, Barcelona đã phải thật sự đấu tranh sinh rồn. Lá cờ đầu của Catalonia phải sống lây lất trong gông cùm, chèn ép, sợ hãi suốt 4 thập kỷ. Mãi để khi Franco qua đời, Barcelona mới lại vươn lên viết tiếp những trang sử hào hùng.

Kỳ III: 40 năm lầm than
Phe Cộng hoà lần lượt thật thủ trên toàn bán đảo Iberia: tại Barcelona tháng 1-1939, tại Valencia tháng 3-1939, tại Madrid ngày 31-3-1939. Thế là cuộc nội chiến kết thúc với phần thắng thuộc về phong trào Dân tộc do Franco đứng đầu. Hơn 600.000 người bỏ mạng trong cuộc chiến ấy.

Ngày 29-6-1939, SVĐ Les Corts của Barcelona tổ chức trận đấu đầu tiên kể từ khi nội chiến kết thúc. Đấu là một trận giao hữu giữa đội tuyển TBN (trong màu áo xanh-đỏ truyền thống của Barcelona) và đội trẻ Athletic Bilbao (đại diện xứ Basque). Con gái tướng Jose Solchaga - nhân vật đã góp công lớn giúp Franco "giải phóng" Barcelona - có vinh dự là người chạm bóng đầu tiên. Không có gì bất ngờ khi đội tuyển TBN thắng đội tuyển xứ Basque 9-1. Chỉ có bất ngờ ở chỗ: lần đầu tiên có một trận đấu thầm lặng diễn ra ở sân nhà của Barcelona. Trận đối không có chỗ cho cảm xúc. Không có niềm tự hào, cũng không có cảm giác thù địch. Người dân hoàn toàn thờ ơ.

Bản thân trận đấu ấy cũng hoàn toàn vô nghĩa đối với những nhà tổ chức. Chỉ có phần nghi lễ trước khi bóng lăn là hết sức quan trọng. Sau điệu nhảy quyến rũ của những vũ nữ tóc vàng xinh đẹp là bài diễn văn thật khoa trương của Ernest Gimenez Caballero, một trong những lý thuyết gia hàng đầu của Franco. Theo Paul Preston, một cây bút nổi tiếng thế giới trong lĩnh vực tiểu sử, "Gimenez Caballero cùng với Salvador Dali và Luis Bunuel là những cha đẻ của chủ nghĩa siêu thực TBN. Ông ta là một trong những người TBN đầu tiên theo chủ nghĩa phát xít trong thập kỷ 20. Nghệ thuật... nịnh hót của Caballero đạt đến tuyệt đỉnh khi cuộc nội chiến kết thúc".


Trong bài diẽn văn khai mạc, Caballero xem mình là một người Catalan mù quáng, được khai thông nhờ có đội quân vinh quang của Franco. Barcelona và hàng triệu cổ động viên của đội ở Catalonia cũng cần được khai thông nư thế. Thói cuồng nhiệt xấu xa, tư tưởng "chống Madrid" đồi bại và dã tâm ly khai cần được tống khứ khỏi Barcelona, khỏi SVĐ Les Corts. Trận đấu giữa đội tuyển TBN và các chàng trai Athletic Bilbao (sau bài diễn văn ấy) sẽ là một là bùa xua tan mọi thứ tà ma ngoại đạo ở cái vùng Catalonia cần thay đổi triệt để này.


Không phải diễn văn suông, mà là hành động cụ thể. Chính quyền Franco đã bài trừ "tà ma ngoại đạo" một các thảm khốc sau trận giao hữu đó. Ngôn ngữ Catalan bị cấm sử dụng trên phương tiện thông tin đại chúng. Xứ Catalonia được gọi là Cataluna (tiếng TBN) thay vì Catalunya (tiếng Catalan). Club de Fúbol Barcelona chứ không phải là Barcelona Futbol Club. Ai vẫy cờ Catalan hoặc huýt sao điệu nhạc Els Segadors - "quốc thiều" xứ này - đều phải ngồi tù. Cảnh sát liên tục khép tội "phản động" hoặc "ly khai" đối với bất cứ người dân nào phản kháng hoặc dại dột làm một việc gì đấy nói chung là không nên làm, chẳng hạn đặt hoa ở tượng Rafael Casanova vào ngày 11/9 (ngày "quốc khánh" Catalonia). Những ai liên quan đến Barcelona càng bị giám sát gắt gao. Ngay đến Gambara - viên tướng Ý được Mussolini cử sang trợ chiến cho Franco - cũng phải nao núng trước sự sắt máu của nhà độc tài TBN, Gambara nói: "Franco đã tiến hành một cuộc thanh lọc đẫm máu chưa từng có tại thành phố Barcelona". Một vạn người bị xử bắn chỉ trong tuần lễ đầu tiên kể từ ngày giải phóng Barcelona. Một thời gian ngắn sau đó, 25.000 người khác chịu chung số phận. Đấy là chưa kể những người bị bắn mà không cần quan xét xử. Trong số đó có cả chủ tịch Lluis Companys của Barcelona. Companys không phải là vị chủ tịch Barcelona đầu tiên bị hành quyết.


Trước đó, khi cuộc nội chiến còn đang căng thẳng, chủ tịch Josep Sunyol đã rơi vào tay kẻ thù khi ông lái xe từ Valencia đến Madrid để vận động chính trị và ký hợp đồng mua cầu hủ mới cho Barca. Sunyol bị bắn không qua xét xử vào tháng 8/1936. Sau này, khi đã thật sự cầm quyền, Franco vẫn không bao giờ đề cập đến cái chết của Sunyol.


Bạn muốn biết cảm giác đích thực của ai đó liên quan đến Barcelona sau khi Franco chiến thắng? Hãy nghe lời kể của Nicolau Casaus, thành viên Barcelona từ năm lên 9. Sau khi Franco qua đời vào 1975, Casaus giữ ghế phó chủ tịch CLB. Ông nhớ lại: "... Chiến tranh thật kinh hoàng. Đạn bay vèo vèo và không ai dám bước ra đường. Nhưng cuộc sống của phe bại trận sau khi chiến tranh kết thúc mới thực sự hãi hùng. Tôi chưa bao giờ gia nhập phe Cộng hoà, cũng không thích dính vào chính trị. Nhưng tôi là người của Barcelona, nghĩa là của nơi mà bao giờ chế độ Franco cũng cho là trung tâm phản kháng. Tôi bị giam ở nơi đặc biệt suốt 72 ngày. Trong những ngày này, hễ lính gác gõ cửa và đọc tên người nào thi coi như người đó đã biết rõ ngày giỗ của mình. May sao, hôm ấy Franco muốn các tù nhân viết bài nhận xét về điều kiện tù đày trong chế độ của ông ta. Tôi viết rằng điều kiện rất tốt, thức ăn khá ngon. Thế là thoát nạn..."


Để ngăn chặn âm mưu nổi dậy, Franco nghiêm cấm mọi cuộc tụ tập ở Catalonia. Thế là sân bóng trở thành nơi duy nhất người ra gặp gỡ bè gnạ, tận hưởng niềm vui hoặc bày tỏ quan điểm. Dưới thời Franco, Barcelona bị chèn ép bao nhiêu, thì đội bóng lại có sức sống mãnh liệt bấy nhiêu. trong gần 40 năm (tính đến khi Franco qua đời năm 1975), người Catalan mỗi tuần có 90 phút hạnh phúc. Đấy là lúc họ đến sân Les Corts, sau này là sân mới Nou Camp, vào mỗi buổi chiều Chủ nhật, đến để xem bóng đá, và để mòn mỏi chờ đợi một ngày mai tươi sáng. 


Kỳ cuối: Real ám ảnh mãi mãi
Hàng chục ngàn người hâm mộ xứ Catalan "đón tiếp" Luis Figo ngay từ sân bay. Suốt quãng đường đến SVĐ Camp Nou, Figo phải tìm mọi cách làm ngơ trước hàng trăm biểu ngữ, hình ảnh, và đôi khi có cả những chiếc mông khiếm ngã bất ngờ hất về phía anh. "Đồ phản bội", "Kẻ hám tiền"...

Người Catalan gán cho Figo mọi danh hiệu tồi tệ nhất, nguyền rủa anh bằn những lời cay độc nhất mà họ nghĩ ra. Trước và sau trận đấu với Barcelona ngày 21/10/2000, Figo và đồng đội Real chỉ thoát khỏi đám đông đầy vẻ căm hờn nhờ các hàng rào cảnh sát kéo dài hàng trăm mét. Còn trong trận đấu? Cầu thủ Roberto Carlos của Real kể lại: "Chúng tôi thi đấu trong bầu không khí sối sục hiếm thấy, bị tra tấn bởi những câu hằn học lẫn trong đủ loại âm thanh. Tôi không còn lưu tâm đến kết quả, chỉ mong trận đấu kết thúc càng sớm càng tốt".

Franco mất năm 1975. Chế độ độc tài của hắn ta cũng sụp đổ rất nhanh sau khi vua Juan Carlos lên ngôi ngày 22/11 năm ấy. Dưới chế độ độc tài, việc học của Juan Carlos (khi còn là Hoàng tử) được Franco giám sát rất kỹ. Juan Carlos luôn tỏ ra là một nhân vật khó hiểu, khôn ngoai và rất quyết đoán. Một mặt tuyên thệ trung thành với những nguyên tắc của Phong trào Dân tộc, một mặt Juan Carlos âm thầm hé lộ quan điểm ủng hộ dân chủ mỗi khi có dịp tiếp xúc các chính trị gia. Địa vị của Juan Carlos trở nên cực kỳ vững chắc khi ông chiếm trọn cảm tình của các lực lượng vũ trang. Từ ảnh hưởng của Juan Carlos, TBN thay đổi gần như hoàn toàn về mặt chính thể trong vòng 3 năm. Thủ tướng Arias Navarro - thành luỹ cuối cùng của chế độ Franco - buộc phải từ chức vào tháng 7/1976. TBN bước vào thể chế Quân chủ lập hiến. Phong trào Dân tộc bị giải tán. luật pháp công nhận 10 đảng phái cũ và mới, hơn 400 tù nhân chính trị được ân xá. Chính quyền tự trị ở Catalonia được khôi phục... Trong một cuộc trưng cầu dân ý, chủ trương cải cách chính trị của Juan Carlos được 94% số phiếu ủng hộ.

Chỉ có một điều mà nhà vua cũng như bất kỳ ai khác không bao giờ thay đổi được. Đó là truyền thống đối đầu Barca - Real. Dưới thời Franco, đây là cuộc đối đầu giữa sự phản kháng và quyền lực. Còn trong bóng đá hiện đại, đấy là cả một thương trường kết hợp với chính trường. Giữa năm 2000, một trùm xây dựng có tên Là Florentino Perez đã khơi dậy lịch sử đối đầu Barca-Real thật đúng lúc và đắc cử một cách ngoạn mục, bất ngờ hơn cả việc Deportivo La Coruna lần đầu tiên vô địch TBN trong năm ấy. Ở vị trí "chiếu dưới" so với chủ tịch đương thời Lorenzo Sanz, Perez tuyên bố sẽ đưa về Real ngôi sao số 1 của Barcelona là Luis Figo nếu ông đắc cử chủ tịch CLB. Còn nếu ông không thực hiện được lời hứa, những cổ động viên mua vế nguyên mùa của Real sẽ được xem chùa trong vòng một năm tại Bernabeu. Thế là Perez đắc cử, Figo trở thành kẻ thù bất đắc dĩ tại Nou Camp, và Real mãi mãi vẫn là đối thủ không đội trời chung của Barcelona.

Người Catalan hồ hởi sau trận Barca thắng 2-0 trước "kẻ hám tiền" trong lần đầu tiên ngôi sao này trở lại Nou Camp, đến nỗi họ sắn lòng bỏ qua sự thi đấu tồi tệ của đội nhà sau đó (chỉ thắng 1 trong 5 trận kế tiếp). Kết thúc mùa bóng 2000-2001, Barcelona chỉ xếp thứ 4 và không có thêm bất cứ danh hiệu nào. Đấy là hậu quả tất yếu khi Barcelona bỏ ra 4 tháng chỉ để chuẩn bị cho trận đấu tay đôi với Real Madrid. Cựu HLV đồng thời là cầu thủ huyền thoại của Barcelona, Johan Cruyff nói trong một bài báo: "Real Madrid mãi mãi là nỗi ám ảnh, không chỉ đối với các cổ động viên xứ Catalan mà với cả ban huấn luyện Barcelona. Đấy là một thực tế vĩnh cửu. Truyền thống thi đấu với phong độ thất thường của Barcelona cũng xuất phát từ nỗi ám ảnh đó".

Cruyff là hiện thân của bóng đá Hà Lan, một thứ bóng đá hấp dẫn, đậm chất nghệ thuật. Vừa có kiến thức sâu rộng về bóng đá, vừa hiểu thấu đáo truyền thống đối đầu với Real, Cruyff cực kỳ thành công trong 9 năm huấn luyện Barcelona. Ông đã đưa về Catalan cả cúp C2 lẫn cúp C1 (đầu tiên trong lịch sử CLB) và 4 lần liên tiếp VĐQG, đánh đắm tên tuổi Real Madrid. Không lâu sau thời đại Cruyff, Barcelona lại thành công dưới sự dẫn dắt của một HLV Hà Lan nổi lên từ giữa thập kỷ 90: Louis Van Gaal, người từng đưa Ajax của những ngôi sao trẻ Kluivert, Davids, Seedorf, anh em De Boer lên ngôi vô địch Champions' League. Dưới thời Van Gaal, dù Barcelona đại bại ở CL (2 lần liên tiếp bị loại sau vòng đấu bảng), nhưng không hề gì. Bởi Van Gaal đã có công đưa Barcelona vượt qua Real, đoạt "cú đúp" trong nước ngay mùa đầu tiên, lại thắng real và VĐQG một lần nữa ở mùa kế tiếp. Với những Figo, Rivaldo, Kluivert, Guardiola ngày càng tỏa sáng, có vẻ như Barcelona đã vươn đến đẳng cấp hàng đầu châu Âu trong nửa đầu năm 2000. Trớ trêu thay, đấu cũng là lúc mối quan hệ Van Gaal - Catalonia rạn nứt vè một lý do rất Catalonia! Van Gaal lạnh lùng giải thích những vấn đề thuần tuý chuyên môn mỗi khi Barcelona thất bại hay chiến thắng. Ông thuộc mẫu HLV điềm tĩnh, bại không nản, và quan trọng nhất là thắng không kiêu. Giới hâm mộ và báo chí Catalan không cần mẫu HLV ấy, ngay cả khi ông ta là HLV xuất sắc. Với họ, HLV biết cách làm việc ở Catalonia phải là HLV biết nhảy cẫng lên sau mỗi bàn thắng; là HLV có khả năng phát biểu bất tận, miễn sao đánh động được niềm kiêu hãnh của toàn xứ sở; là HLV luôn có sẵn những lời chỉ trích trọng tài nếu Real chiến thắng. Van Gaal ra đi là điều tất yếu, cũng như người tiền nhiệm Bobby Robson của ông phải ra đi vào năm 1997. "Tội" của Robson là đã xem việc đoạt cúp C2 châu Âu quan trọng hơn thất bại trước Real Madrid ở giải VĐQG.

Barcelona là thế. Mối thù truyền kiếp Barca - Real là thế. Có cả lãng mạn, nồng nhiệt, trung thành lẫn ích kỷ, điên rồ. Một anh hàng thịt bị hàng xóm bắn hạ chỉ vì anh hàng thịt là cổ động viên Real, tỏ ra vui mừng khi Barcelona thất bại ở CL, và hàng xóm của anh ta là cổ động viên Barcelona. Đấy là câu chuyện có thật trong mùa bóng 2000-2001.



Barcelona - Real Madrid: Trăm năm thù hận!
Nói đến bóng đá Tây Ban Nha là nói đến Barcelona, đến Real Madrid, đến mối hận thù truyền kiếp giữa 2 cái tên nổi tiếng nhất thế giới. Vì thế, chẳng có gì ngạc nhiên khi mỗi dịp El Derby - trận derby Tây Ban Nha - đến là một lần có chuyện: hết báo chí chửi nhau lại đến các cổ động viên "đại chiến" cả trên đường phố lẫn trong sân vận động. Nhưng bóng đá Tây Ban Nha sẽ chẳng còn là bóng đá Tây Ban Nha nếu không có mối thù trăm năm này!
Mucho Morbo

Nếu bạn muốn biết Mucho Morbo nghĩa là gì, xin mời kiếm một cuốn từ điển Tây Ban Nha - Việt Nam. Nhưng có điều, đó là công việc "dã tràng xe cát", dù bạn có cặm cụi tra cứu cả ngày trời cũng chẳng thể hiểu được nó có nghĩa gì, bởi rất đơn giản, bạn không phải là người Tây Ban Nha để mà được sống và "tận hưởng" cái bầu không khí thù địch quen thuộc mỗi lần Barca đụng độ Real.

Mucho Morbo, đó đơn giản là một từ lóng của người Tây Ban Nha mỗi lần muốn nói về bầu không khí căng thẳng và thù địch luôn tồn tại giữa hai người khổng lồ Barca và Real. Đồng thời, Mucho Morbo còn có ý nghĩa khác nữa là: sự hận thù giữa hai bên không còn đơn thuần chỉ là một sắc thái tình cảm của con người, nó dường như đã trở thành "một thực thể có sự sống", luôn biến đổi theo thời gian và năm tháng. Năm nay, người Barcelona có thể ghét người Madrid vì chuyện bị cướp mất Figo, năm tới, lại có thể bực mình vì chuyện khác.

Superclasico còn là cuộc chiến của báo giới.

Muốn tìm hiểu được rõ hơn điều này, trước tiên, hãy khoan tìm hiểu nguồn gốc của mối thù dai dẳng này, mà hãy nói về thực tại: mỗi lần Barca và Real gặp nhau là một lần bầu không khí được nung nóng đến mức cùng cực với sự trợ giúp có phần tích cực một cách thái quá của giới báo chí Tây Ban Nha vốn không kém phần thóc mách.

Với báo giới, niềm ưa thích của họ là làm sao để tìm ra cho được một chủ đề để mà tạo nên "hương vị khác biệt" cho mỗi lần gặp gỡ. Điển hình nhất cho thực tế này là những cuộc bút chiến giữa cặp Marca, AS (có trụ sở tại Madrid) với cặp Sports, El Mundo Deportivo (có trụ sở đặt tại thành phố Barcelona). Nhớ lại chủ đề chính của cuộc bút chiến năm 2000 xoay quanh Figo, báo chí Madrid ngợi ca tiền vệ Bồ Đào Nha như là một người hùng, báo chí Barcelona thì chửi rủa thậm tệ "kẻ phản bội xấu xa".

Năm 2002, họ lại hứng thú với chuyện tranh cãi xem Ronaldo của Barca có hay hơn Ronaldo của Real hay không? Cũng như vậy, trong mùa giải 2005 - 2006, tờ Marca khơi mào đầu tiên khi lên tiếng khẳng định Iniesta đã đi đêm với Florentino Perez để đến với sân Bernabeu vào tháng 6/2006; rồi sau đó, AS khơi gợi lại vụ scandal “vật thể bay” tưởng đã chìm xuồng và đòi Barca phải thực hiện án cấm thi đấu 2 trận tại Nou Camp mà đội bóng Catalan đã “lờ tịt” đi trong suốt 2 năm qua.

Rõ ràng người hâm mộ cứ yên tâm, họ chẳng bao giờ hết chuyện để mà nghe, mà nói trước mỗi mùa bóng mới.

Sản phẩm của lịch sử

Hận thù thì đã rõ rồi, nhưng nguyên nhân nào dẫn đến điều này? Để có thể lý giải được cặn kẽ tất cả thì nhiều, nhiều lắm!!!

Trước hết, giữa Barcelona và Madrid có sự khác biệt quá lớn: thành Barcelona phù hoa, náo nhiệt, Madrid thì u ám lặng lẽ; Barcelona hiện đại đối nghịch với một Madrid đầy cổ kính; người Barcelona cởi mở bao nhiêu, người Madrid lại thâm trầm bấy nhiêu… Chừng đó còn chưa đủ, FC Barcelona và Real Madrid còn khác biệt nhau đến nỗi cái sân bóng của họ cũng khác nhau.

Bernabeu đầy thù nghịch - giống như khán giả Madrid - trong màu trắng lạnh lẽo, tương phản hoàn toàn với sắc đỏ đầy ấm áp tại Nou Camp - giống như sự thân thiện và hiếu khách của con người thành phố cảng Barcelona. Bernabeu thì "tường cao, hào sâu", ngăn cách hoàn toàn giữa khán giả với các cầu thủ; Nou Camp chan hoà giống như một sân bóng Anh, nơi không hề tồn tại một sự cách biệt giữa sân cỏ và khán đài…

Nhưng nhìn chung, đó chỉ là phần nổi của tảng băng, còn nói trắng ra thì mối thù Barcelona - Real Madrid là sản phẩm của lịch sử. Không nơi đâu tại châu Âu, sự chia cắt và phân hoá lại sâu sắc đến như vậy, trừ Tây Ban Nha. Như là một kết quả của lịch sử, các vùng đất Tây Ban Nha hiện nay là phần còn lại của một sự lắp ghép mang tính cưỡng ép dưới đế chế Hapsburg thời Trung cổ. Vì thế, không có gì lạ nếu bạn tới Bilbao thì thấy người ta nói tiếng Basque, nếu ai không biết mà dám hỏi người địa phương: "Anh là người Tây Ban Nha - Espanol - à?" thì sẽ nhận được cái trừng mắt đầy tức giận: "Không bao giờ, tôi chỉ là người Basque…". Chẳng thế mà cái tên "nước Basque" - the Basque Country - lại nằm nghênh ngang trong bản đồ của một nước Tây Ban Nha hiện đại.

Và câu chuyện của Barcelona và Real Madrid cũng không thể tránh khỏi sự chi phối quen thuộc của dòng chảy lịch sử. Cũng giống như biển Địa Trung Hải bao la, rộng lớn, làm sao mà con người xứ Catalunya vốn khoáng đạt và ngạo nghễ lại chịu đựng được sự thống trị khắc nghiệt của những gã quý tộc "ăn chắc, mặc bền" chỉ biết ăn chơi của xứ Castille - nơi có Madrid - một vùng đất hẻo lánh tại trung tâm của Tây Ban Nha nhờ sở thích… đam mê săn bắn của vua Carlos V mà được biến thành thủ đô. Trong khi đó, nói về tầm quan trọng, Barcelona rõ ràng hơn hẳn Madrid về mọi mặt: một cảng biển sầm uất nhìn thẳng ra Địa Trung Hải, một đầu mối của quá trình giao thoa văn hoá, một cửa ngõ của TBN hướng ra thế giới.

Quả là không ngoa khi học giả nổi tiếng John Hopper tuyên bố trong cuốn "Người Tây Ban Nha mới" - the New Spaniards - rằng: "Tuy Madrid có Prado, có chính phủ, có cung điện Hoàng gia nhưng tất cả những gì làm nên lịch sử hiện đại của Tây Ban Nha: tư tưởng Cộng hoà, tư tưởng Cộng sản, tư tưởng Liên bang… đều bắt nguồn từ thành phố Barcelona mà ra cả…". Vì thế, không có gì lạ khi luôn tồn tại ngọn lửa xung đột, lúc ngấm ngầm, lúc bùng phát giữa Catalunya và Castille, và nó thể hiện ra ở mối quan hệ giữa 2 cái tên: FC Barcelona và Real Madrid.

Những ân oán đầu tiên

Năm 1902, lúc đó đội bóng 3 năm tuổi FC Barcelona cùng "đứa trẻ vừa đầy năm" Madrid FC (tiền thân của Real Madrid) tham dự giải đấu do vua Alfonso XII cùng Carlos Prados, Chủ tịch lúc đó của Madrid FC đề xướng - ngày nay giải đấu này phát triển thành Cúp Nhà vua - với 3 đội bóng khác là Vizcaya, New Football de Madrid và Espanol - đổi thành Espanyol vào năm 1990. Tại giải đấu đó, Barcelona hạ gục Madrid FC (3-1), trước khi thất bại 1-2 trước Vizcaya tại trận chung kết.

Tuy nhiên, có lẽ do tức tối bởi thất bại của đội chủ nhà Madrid FC mà vua Alfonso XII ép Barcelona đấu thêm một trận chung kết nữa với Madrid ngay chiều hôm đó. Kết quả là đội bóng thủ đô thắng 2-1 bởi đội khách Barcelona đã kiệt sức sau trận đấu đầu tiên, và một sự hài hước là vua Alfonso đã trao tặng cho Madrid FC một chiếc Cúp giả - được châm biếm gọi là trofeo - vì chiếc Cúp thật đã được trao cho Vizcaya.

Chưa hết, dưới thời độc tài Franco, mọi tư tưởng địa phương hoá là điều cấm kỵ. Lẽ dĩ nhiên là Catalunya cũng không thoát với hàng loạt những vụ đàn áp, bắt bớ, giết hại các chính trị gia địa phương, ngôn ngữ Catalan bị cấm, mọi cuộc hội họp đều là trái phép. Thế là người Catalan tận dụng mọi cơ hội để kéo nhau đến sân Les Cortes - sau này là Nou Camp - của Barcelona để mà thoải mái nói tiếng Catalan, mà nói chuyện, bàn tán, tâm sự với nhau. Và hận thù theo đó lại càng tăng thêm, đặc biệt là sau một sự kiện mà người ta gọi là "vết nhơ thế kỷ của bóng đá Tây Ban Nha" - El bano del siglo.

Tại trận bán kết Cúp Thống chế năm 1943 - xuất phát từ Cúp Nhà vua và được LĐBĐ Tây Ban Nha đổi tên để làm vừa lòng Franco - Barcelona gặp phải Real Madrid. Tại trận lượt đi diễn ra ở Les Cortes, bất chấp sự thiên vị của trọng tài (ví dụ như việc Jose Maria Querejeta của Madrid tung chân đạp thẳng vào bụng của Escola, để rồi đích đến của cầu thủ này là bệnh viện) thì đội chủ nhà Barcelona vẫn giành chiến thắng 3-0. Nhưng trong trận lượt về tại sân Chamartin, Real Madrid hạ gục Barcelona với tỷ số khó tin… 11-1.

Thế nhưng tỷ số đó không còn quan trọng khi có một sự kiện đã phủ mờ tất cả. Mãi sau này người ta mới biết rằng trước khi trận đấu diễn ra, đích thân Franco đã xuất hiện trong phòng thay quần áo của các cầu thủ Barcelona với lời tuyên bố: "Tôi cho biết một số người còn có thể chơi bóng tại đây là nhờ lòng nhân đạo (!?) của nền Cộng hoà thứ 2…". Chỉ một câu nói đơn giản đó đã làm nên chiến thắng đậm đà nhất trong lịch sử 100 năm đối đầu giữa Real Madrid và Barcelona.

Thế mới biết, mối hận này xứng là mối hận truyền kiếp!
Sự thật về "Vết nhơ lịch sử trên sân Charmatín"



Có rất nhiều giai thoại xung quanh "Trận đấu tồi tệ nhất trong lịch sử FC Barcelona", những câu chuyện đến từ 2 phía, và từ những người trung lập. Nhưng chỉ có 1 điều, khi nhắc về sự kiện ấy, người ta vẫn gọi nó là "Vết nhơ thế kỷ của bóng đá Tây Ban Nha".

Có một bài viết trên một blog bóng đá lớn (oleole.com), tác giả là Mario Gòmez, một người nổi tiếng vì dành khá nhiều năm sưu tầm một lượng tài liệu đồ sộ để chứng minh mối quan hệ giữa độc tài Franco và CLB Hoàng gia Madrid là "trong sạch" đối với bóng đá. Bài viết với đại ý: "Sự thật về trận bán kết lượt về Cúp Tổng tư lệnh năm 1943!". Trong bài viết này, Gòmez đã đưa ra vài lập luận nhằm chứng minh rằng những gì chúng ta được nghe kể về trận đấu đó, rằng Barcelona đã bị ép phải thua như thế nào, là bịa đặt. Bài viết này khá nổi tiếng và được nhiều tờ báo thể thao (đương nhiên là cả các báo Việt Nam) dịch và đăng lại. Dưới đây là một số sự kiện lịch sử đã được xâu chuỗi nhằm giúp chúng ta hiểu thêm về giá trị bài viết của Gòmez, và hiểu thêm về những gì xảy ra trong ngày đen tối ấy.

Câu chuyện trong phòng thay đồ

Chẳng hạn, họ khẳng định rằng một vài nhân viên vũ trang đã đe dọa các thành viên của Barça trong giờ nghỉ giữa hiệp bởi họ đã nói tiếng Catalan, điều đã bị ngăn cấm ngay sau khi nội chiến Tây Ban Nha kết thúc. Đội khách bắt đầu hiệp hai trong tình trạng tinh thần hoảng loạn và hài hước hơn, một số người trong số họ (kẻ thù của The Whites) còn tin rằng đã có những đại diện của chính quyền gây áp lực với trọng tài để Real Madrid giành chiến thắng !

Và sự thật là các nhân viên vũ trang đã vào phòng thay đồ của Barça sẽ không thể đe dọa các Culés chỉ vì họ đã nói tiếng Catalan, đơn giản là vì luật cấm sử dụng thứ tiếng này ở nơi công cộng đã bị bãi bỏ vào năm 1942 và trận đấu thì diễn ra vào năm 1943 !
Nguyên nhân chính khiến FC Barcelona bị vùi dập khó có thể đổ lỗi cho tình trạng “hoảng loạn” của các cầu thủ đội khách bởi trận đấu đã an bài ngay khi kết thúc hiệp một với lợi thế dẫn trước 8 bàn của đội chủ nhà. Các Madridistas chỉ ghi được thêm 3 bàn nữa trong hiệp hai và Blaugrana chỉ ghi được một bàn danh dự.
Vị trọng tài duy nhất điều khiển trận đấu đó đã phải rất vất vả để nhắc nhở hai đội chơi “fair-play”.
Để phản bác lại một điều sai thì luôn dễ dàng, và tác giả bài viết trên đã "nhặt" ra một điều sai trong câu chuyện lịch sử để rồi phản bác lại nó.
Trong câu chuyện trên: Các nhân viên an ninh không hề vào phòng thay đồ của đội bóng xứ Catalan để đe doạ các Culés vì họ đã nói tiếng Catalan. Ít nhất thì không phải vì cuộc viếng thăm ấy mà Barça "thua trận". Một đội bóng không bao giờ thua trong phòng thay đồ ! Như chính bài viết trên đã nói: Trận đấu đã an bài ngay khi kết thúc hiệp một với lợi thế dẫn trước 8 bàn của đội chủ nhà. Barça đã bị vùi dập ngay trong hiệp đấu đầu tiên, nhưng trước đối thủ là các "cổ động viên" và "trọng tài". Những chai lọ, những viên đá, những tiếng la ó, chửi thề hướng về đội bóng xứ Catalan từ khắp các khán đài. Trên sân, vị trọng tài (người được cho là đã "thăm" phòng thay đồ của Barça trước trận đấu với lời nhắc nhở "Đừng làm gì dại dột ở Madrid!") chỉ có mỗi việc thổi phạt các cầu thủ Barça mỗi khi bóng lăn sang phần sân đội chủ nhà.

Vậy lực lượng an ninh phải mất công vào "giao lưu" với đội khách làm gì khi người Madrid đang chiến thắng? Vì các cầu thủ đội bóng Blaugrana đã quá sức chịu đựng, và họ muốn chịu thua, bỏ "thi đấu" hiệp 2. Nhưng mọi chuyện đâu có dễ như thế! Đối với Franco, trận đấu này còn là cơ hội để dằn mặt những kẻ ly khai Catalan. Đây như là một vở kịch mà Franco làm đạo diễn, trong đó Barça phải ra sân, "thi đấu" đến phút chót, để thành Madrid - đại diện cho giới lãnh đạo - nghiền nát một Barcelona "không đầu hàng" - đại diện cho vùng đất "cứng đầu" Catalunya. Đó chính là lí do vì sao các cầu thủ áo đỏ-xanh kia cần hiểu rằng họ vẫn được chơi bóng hợp pháp ở đây đã là một đặc ân, mà đã mang đặc ân thì họ phải phục vụ cho vở kịch!

Franco và Real Madrid hay Franco và FC Barcelona?

Nhìn lại thời kỳ lịch sử đó – quãng thời gian mà nhiều người vẫn tin rằng Tướng Franco đã “nhúng tay” vào chiến thắng của Real Madrid trong thời kỳ “cực thịnh” của mình – có thể dễ dàng nhận thấy một điều: kể từ khi nhà độc tài này nắm quyền năm 1939, Club Blanco đã không thể giành nổi một chiếc cúp hay danh hiệu nào cho tới tận năm 1947 và trắng tay ở giải VĐQG cho đến tận năm 1954 ! Trái lại, cũng trong thời kỳ này cả FC Barcelona lẫn Athletic Bilbao – hai câu lạc bộ giành được sự ủng hộ của phần lớn những người căm ghét Franco ở nhiều vùng trên xứ sở Bò tót – lại thay nhau giành cúp. Câu hỏi được đặt ra là sau trận đại thắng 11-1 trước Barça ở Bán kết Cúp Nhà Vua, tại sao Tướng Franco và tay chân của ông không “giúp” Real Madrid vượt qua nốt Athletic Bilbao ở trận chung kết (Bilbao thắng 1-0)
Đến đây ta có thể thấy bài viết lại đi theo chiều hướng cũ, đó lại là phản bác một thứ vô giá trị. Nên nhớ rằng khi Franco lên ngôi, bản thân Real cũng đã phải chịu những mất mát. Đầu tiên là đội hình, sau Nội chiến Tây Ban Nha Real ngay lập tức trải qua giai đoạn khủng hoảng chuyển giao thế hệ, một số thì bị trục xuất, một số quá già, và đội hình gần như về con số 0. Có vài người trong hàng ngũ lãnh đạo Real thời đó theo Chủ nghĩa xã hội, và đó cũng là thứ đi ngược lại với Franco. Nhưng Real vẫn là đội bóng hoàng gia, là đại diện của thủ đô, là "con thú cưng" của người dân Madrid. Đụng đến Real 1 cách thái quá sẽ làm mếch lòng tất cả giới thượng lưu ở Madrid, điều mà ngay cả một trùm phát xít cũng không muốn thử. Và cách hay nhất là cải tạo lại Real Madrid và sử dụng đội bóng như một thứ vũ khí ngoại giao. Và thứ vũ khí ấy được dùng vào nhiệm vụ chính, không gì khác, chính là đấu với "cái gai" Barcelona. Hoá ra nhờ có Barça mà Real mới được "ưu ái" trong thời kỳ đó. Nhưng không may, chính vì Franco không quan tâm đến việc Real chiến thắng bằng việc Barcelona phải thua, nên Bilbao mới là đội chiến thắng trong trận chung kết năm ấy (xứ Basque nơi Bilbao xuất phát cũng là vùng đất nổi lên đòi tự trị, nhưng đã đầu hàng trước Franco để bảo toàn nền công nghiệp và kinh tế những năm đó) Trên thực tế có nhiều tài liệu nói rằng Athletico Madrid mới là đội bóng Franco thực sự ưa thích, còn Real chỉ là công cụ ngoại giao của hắn.



Màn tiếp đón trên sân Charmatín

Cuối cùng, Bernardo Salazar – một trong những nhà nghiên cứu và thống kê lịch sử thể thao hàng đầu Tây Ban Nha (vốn là một CĐV ruột của Atlético Madrid) – đã trình bày trong một tư liệu lịch sử của ông rằng đã có hai Culés quả quyết với ông là họ không hề phải chịu một áp lực nào để phải chấp nhận thua cuộc. Đó là José Escolá, người đã chơi đủ 90 phút của trận đấu lịch sử đó và Domingo Balmanya – một Bình luận viên tài năng, nhưng khá kín đáo ngoài đời – người đã không được vào sân và chỉ có mặt ở Chamartín cùng các đồng đội.
Sự thật duy nhất trong mớ hỗn độn được ‘tam sao thất bản’ qua lời kể của nhiều người này (có lẽ) là áp lực được tạo nên bởi sự cuồng nhiệt của các động viên Los Blancos (tiếng còi của trọng tài đôi khi cũng bị ‘méo’ bởi tiếng huýt gió từ các CĐV) và điều này giải thích tại sao trong hiệp một Barça phải nhận hai bàn thua không hợp lệ, đồng thời Madrid bị từ chối một bàn thắng mười mươi. Phần còn lại của hiệp hai như chúng ta đã biết, áp lực tạo ra từ sự cuồng nhiệt trên khán đài kết hợp với khả năng tấn công siêu hạng của Real Madrid đã tạo nên một trận cầu khó quên nhất trong lịch sử bóng đá Tây Ban Nha!
Mình cũng không hiểu ông Bernardo Salazar này lôi đâu ra, nhưng có thể nói rằng, với cách dùng từ khác nhau thì ấn tượng của người đọc cũng khác nhau. Với 2 từ "quả quyết", nghe có vẻ như Escola đã quên đi cú song phi trong trận lượt đi khiến anh phải vào nằm viện. Hoặc coi như sự việc trên là có thật, thì logic 1 chút, sau khi Escola vừa nhận được những "lời khuyên" như: Đừng làm gì dại dột ở Madrid! hoặc Anh còn được tự do là nhờ sự khoan hồng của chế độ... Anh sẽ phát biểu ra sao trong cuộc phỏng vấn với 1 phóng viên thủ đô...?

Vâng và phần tiếp theo, chắc hẳn người đọc đến đây đều cảm thấy có điều gì đó hơi lạ: Tại sao khán đài lại có thể gây áp lực lớn đến thế? Câu trả lời rất đơn giản: Vì trên đó chỉ toàn các "khán giả" chủ nhà! Trước trận đấu, liên đoàn bóng đá đã buộc tội các CĐV Barça: Tạo áp lực lên Real Madrid trên sân Les Corts khiến họ thua đậm...! Và cấm bất kỳ CĐV Barcelona nào đặt chân đến Charmatín trong trận lượt về. Và như vậy, chắc hẳn mọi người đã tưởng tượng ra cảnh đội bóng xứ Catalan tiến vào lãnh địa quân thù...
Tất cả, để đảm bảo cho một vở kịch thành công của Franco!

Sau trận đấu ấy, một cuộc bạo loạn lớn đã xảy ra, và cả 2 chủ tịch của Barça cũng như Real đều từ chức. Trong mọi tư liệu về lịch sử của Real Madrid, trận đấu này được nhắc đến như là "Chiến thắng lịch sử của CLB", "Chiến thắng vĩ đại"... nhưng không một tài liệu nào dám ghi nhận đây là "Chiến thắng kỷ lục" của Real Madrid. Và trận thắng đậm nhất được lịch sử công nhận của Real trước Barça là trận thắng 8-2 trên sân Charmatín vào năm 1935.



L瓢u trang
T瓢峄漬g thu岷璽 b贸ng 膽谩 tr峄眂 tuy岷縩 tuong thuat bong da truc tuyen, b贸ng 膽谩 tr峄眂 ti岷縫 9.9 / 10 59527 膽谩nh gi谩

As the global uk replica watches CEO of Greenhill, Eric Loth said that they will continue to replica watches uk uphold the British watchmakers on the tabulation of enthusiasm in fake watches the future for the love watch more features to bring more functional watch, let the world witness more integ ration uk replica watches British traditions and modern factors.